THỐNG KÊ TRUY CẬP
Số người đang online: 50
Số lượt truy cập: 1598359
QUẢNG CÁO
DẠY HỌC KHÔNG PHẢI CHO VÀ NHẬN THÔNG TIN 5/5/2017 9:18:46 PM
Có một sự khác biệt lớn giữa khái niệm "thông tin" và khái niệm "kiến thức", hay đôi khi có thể đặt thêm một cấp cao hơn "kiến thức" là "tri thức". Nếu một nền giáo dục chỉ truyền tải thông tin cho người học, thì chắc chắn đó là một nền giáo dục thất bại. Một nền giáo dục tiến bộ là nền giáo dục dạy cho người ta nghĩ như thế nào, chứ không phải nghĩ cái gì.

Để mở đầu, tôi xin trích lại một đoạn ngắn trong một bài viết cũ về sự khác nhau giữa thông tin, kiến thức và tri thức.

- Thông tin là tất cả những gì bạn có thể nhìn thấy, có thể nghe thấy, đọc được hay cảm giác được. Tức là từ việc Hệ Mặt Trời có bao nhiêu hành tinh tới việc ai là tổng thống Mỹ hay thậm chí hôm nay rau muống bao nhiêu tiền một mớ đều là các thông tin. Bất cứ ai ở bất cứ lứa tuổi, ngành nghề, trình độ học vấn, thành phần xã hội nào cũng có thể có các thông tin này nếu họ dù vô tình hay hữu ý nghe/nhìn/đọc được.

- Kiến thức là những thông tin đã được chọn lọc và xử lý. Ví dụ tôi là người nghiên cứu thiên văn, tôi chủ động tìm hiểu các thông tin về thiên văn học, và cố gắng hiểu hết chúng, ghi nhớ chúng. Như vậy tôi là người có kiến thức về thiên văn học. Các bà nội trợ có thông tin về giá cả các mặt hàng hàng ngày, nhưng nếu không hiểu vì sao hôm nay thịt đắt hơn hôm qua còn rau lại rẻ hơn và không thể dụ đoán tình hình ngày mai thì họ chỉ là người có thông tin về chợ búa chứ chưa phải có kiến thức về nó.

- Tri thức là sự kết hợp của kiến thức và trí tuệ. Tức là người có tri thức là người không chỉ có kiến thức mà còn phải sử dụng khả năng tư duy bản thân để phân tích, phát triển và ứng dụng những kiến thức đó. Ví dụ anh kĩ sư hay anh thợ máy tự cải tiến những cỗ máy cho ra năng suất làm việc cao hơn, nhà sư phạm sau nhiều năm quan sát thì đưa ra những phương pháp dạy học tốt hơn. Nếu những kiến thức có được không được sử dụng hợp lý thì nó sẽ không thể trở thành tri thức."

          Điều đáng nói trong nền giáo dục của Việt Nam hiện nay, là chỉ có rất ít những người thầy nghĩ tới việc (hoặc có đủ khả năng) truyền tải kiến thức, tri thức cho người học. Nói cách khác, rất ít nhà giáo mang lại cho học trò của mình khả năng tư duy, mà chỉ đưa vào đầu họ những thông tin không hề được xử lý, thậm chí ở rất nhiều nơi người ta còn chẳng cần người học xử lý, vì lí do đơn giản là "học để đi thi".

          Không khó để nhận ra những điều trên. Tôi ngạc nhiên với kiến thức của một lượng lớn những người trẻ đã và đang tham gia học tập tại các trường đại học ngày nay, nơi mà họ được giáo dục, được đào tạo để trở thành các "trí thức". Khi tôi thử đặt những câu hỏi vui, hay vô tình bắt gặp một tình huống trong những lần tiếp xúc với sinh viên hoặc người trẻ mới đi làm, tôi nhận ra một tỷ lệ không nhỏ những người đang hoặc sắp là "trí thức" ngày nay gặp khó khăn với những vấn đề hết sức cơ bản.

          Chẳng hạn, vài năm trước có lần tôi hỏi các sinh viên rằng tôi là một người đang làm việc tại Hà Nội nhưng cha mẹ tôi lại hiện đang ở thành phố Nam Định, thế thì 8 giờ sáng khi tôi muốn đi từ Hà Nội về Nam Định thăm gia đình thì tôi nên ngồi phía trái hay phải của xe khách để tránh tối đa ánh nắng, chỉ có một số ít trả lời được, số còn lại cho rằng "ai đi nhiều tuyến đường đó mới biết được". Vấn đề ở đây không liên quan gì tới việc tôi đi nhiều hay đi ít mà biết được, tôi cũng không cần trèo lên xe rồi mới xác định góc nào đang có nắng hay xe có đổi chiều không. Nếu để ý, bạn sẽ hay gặp bài toán đời thường này ở các chuyến xe liên tỉnh chạy vào sáng hoặc chiều khi đang có nắng. Các hành khách thường băn khoăn xem ngồi đâu để không có nắng, có người chọn bên không có nắng rồi nghe ai đó nói "lát xe đổi chiều" nên lại chuyển sang bên còn lại. Thật đáng buồn, vì tôi thì tin rằng chẳng có ai lại không biết Mặt Trời hàng ngày mọc ở hướng Đông vào buổi sáng và lặn ở hướng Tây vào buổi chiều tối, và tôi cũng tin rằng nếu đã đi học hết chương trình THCS (cấp 2) thôi thì người miền Bắc ai cũng biết Nam Định nằm ở phía Nam của Hà Nội. Vậy bài toán trở thành việc trả lời cùng lúc hai câu hỏi hết sức đơn giản: buổi sáng Mặt Trời nằm ở hướng nào và khi đi từ Bắc tới Nam thì bên nào là hướng Đông và bên nào là hướng Tây. Việc này cũng tương tự như việc bỗng nhiên có người hỏi bạn Trái Đất tự quay từ Đông sang Tây hay từ Tây sang Đông, đó chẳng phải việc bạn có nhớ kiến thức mà ở cấp 2 người ta đã dạy hay không mà là việc bạn có dùng bộ não của mình để mà tìm ra câu trả lời hay không, bởi vì Mặt Trời chuyển động (biểu kiến) từ Đông sang Tây thì hiển nhiên phải là vì Trái Đất tự quay theo chiều ngược lại.

          Ví dụ vô cùng đơn giản mà tôi mới nêu ở trên, chính là vai trò của việc sử dụng tư duy để áp dụng những gì mình đã học được, nói cách khác là việc biến thông tin thành kiến thức. Vấn đề là tại sao những người không làm được việc đó, hay có thể làm nhưng lại không hề có thói quen làm việc đó lại quá nhiều trong xã hội ngày nay? Câu trả lời đầy đủ và chi tiết thật khó mà diễn giải được cho hết, chỉ biết có một lí do hết sức quan trọng mà tôi muốn nói tới trong bài viết này, đó là: nền giáo dục của chúng ta chỉ dạy cho học sinh "nghĩ cái gì" chứ không phải "nghĩ thế nào".

Thế nào là "nghĩ thế nào"?

          Có một lượng lớn các kiến thức mà người ta có thể sử dụng để giải thích, dự đoán những tình huống đời thực chẳng hạn như ví dụ nêu trên hay hàng vạn, hàng triệu hiện tượng và sự việc khác nữa một cách logic, những kiến thức đó gọi chung là các kiến thức khoa học. Ở góc độ nghiên cứu chuyên sâu, khoa học tỏ ra là một lĩnh vực phức tạp, chính xác là mỗi thành phần dù rất nhỏ của nó cũng hết sức phức tạp. Nhưng ngược lại, đối với những kiến thức khoa học sử dụng trong đời sống hàng ngày của chúng ta, đơn giản là các kiến thức mà người ta đã đưa vào trường phổ thông để bạn được học, thì thực tế lại rất rất đơn giản. Những người cho rằng chúng phức tạp và khó hiểu, về cơ bản là những người đã không được dạy "nghĩ thế nào", hay nói dễ hiểu hơn là không được dạy để sử dụng kiến thức của mình.

          Khoa học, xét cho cùng là một tập hợp các nhận xét cho phép chúng ta giải thích thế giới, từ việc giải thích được thế giới thì người ta mới có thể dự đoán, sáng tạo và kết quả là xây dựng được cả một nền văn minh rực rỡ như chúng ta đang có. Vậy thế giới có phức tạp không? Tạo hóa có cùng lúc tạo ra một số lượng khổng lồ các tham số cấu tạo nên thế giới này và liên kết chúng với nhau không? Câu trả lời là không. Khoa học ngày nay cho chúng ta biết rằng thế giới của chúng ta có khởi điểm là một lượng hữu hạn, thậm chí rất rất ít các qui tắc, định luật mà nếu chúng ta nắm được chúng thì chúng ta không khó khăn gì để hiểu về thế giới cùng các hiện tượng trong nó.

          Hãy xem trong hình học, cụ thể là hình học phẳng, nó còn hay được gọi là hình học Euclid. Tại sao lại có tên gọi như vậy? Đó là bởi vì hệ thống hình học phẳng này xây dựng trên cơ sở là năm tiên đề của Euclid. Điều đó có nghĩa là năm tiên đề đó là nền tảng mà từ đó người ta có thể suy ra tất cả các qui tắc và định lý khác trực tiếp hoặc gián tiếp. Ví dụ từ tiên đề về hai đường thẳng song song và các góc bằng nhau, người ta dễ dàng suy ra được rằng tổng ba góc trong một tam giác là 180 độ. Nếu kết hợp với một qui tắc số học khác được áp dụng trong hình học là diện tích của hình vuông bằng bình phương độ dài cạnh của nó, thì người ta có thể suy ra hay chứng minh định lý Pythagore (hay Pythagoras) trong đó cho biết bình phương độ dài cạnh huyền tam giác vuông bằng tổng bình phương độ dài của hai cạnh góc vuông, đó là những bài toán khá phổ biến và dễ dàng đối với học sinh học chương trình toán học phổ thông. Tuy nhiên như một số người nói rằng toán học, về một khía cạnh nào đó không phải một tập hợp định luật mô tả thế giới như vật lý và các họ hàng của nó, mà nó là một thứ ngôn ngữ, ngôn ngữ cho phép người ta diễn giải những quy tắc của tự nhiên bằng cách này hay cách khác. Điều đó có nghĩa là thực ra ngay ban đầu người ta có thể chọn một số định lý khác làm tiên đề, ví dụ như chọn ngay việc tổng ba góc trong một tam giác bằng 180 độ là tiên đề, hoặc định lý Pythagore là tiên đề thay cho tiên đề về các đường song song của Euclid. Khi đó người ta vẫn có thể sử dụng các tiên đề đó để suy ra các tính chất hình học khác và tính chất của hai đường song song lúc đó lại trở thành một định lý được suy ra (tất nhiên trong một bài ngắn nêu quan điểm giáo dục thì tôi không có điều kiện trình bày chi tiết những cách diễn giải và chứng minh này). Việc các tiên đề của Euclid được coi là tiên đề cơ sở, xét theo một khía cạnh nào đó chỉ là một qui ước được chọn, nó được chọn có thể vì Euclid là người đâu tiên chọn chúng khi ông tìm ra chúng trước,  và còn vì một lí do quan trọng là chúng là các qui tắc tổng quát và dễ áp dụng rộng rãi nhất trong khi nếu chọn một số qui tắc khác làm tiên đề thì người ta sẽ phải đi qua nhiều bước gián tiếp hơn để suy ra nhiều qui tắc khác. Chỉ có một điểm lưu ý duy nhất là cho dù tập hợp qui tắc nào được chọn làm tiên đề thì cuối cùng kết quả mà chúng dẫn tới (tập hợp các qui tắc khác được tìm ra trên cơ sở của chúng) sẽ đều như nhau. Điều đó có nghĩa là nếu như nắm được một số lượng qui tắc cơ sở đã biết chắc, bạn hoàn toàn có thể mặc định chúng là tiên đề cho mình và tự xây dựng các qui tắc, định lý, công thức khác của hình học cơ bản.



Một cách đơn giản để chứng minh định lý Pythagore qua tính chất của các đường song song

Trong vật lý thì có hơi khác một chút, vì vật lý thì không phải một ngôn ngữ thể hiện như toán học. Bản thân nó là một bức tranh về tự nhiên mà dùng cả quan sát, thực nghiệm và toán học để dần sáng tỏ dần các phần còn bị che khuất, và khi nhìn được rồi người ta sẽ lại phải tìm cách nhìn rõ hơn. Do vậy nên không phải khi nào những thứ cơ sở (vi mô) cũng được tìm ra trước những thứ phức tạp hơn (vĩ mô). Một ví dụ rõ ràng nhất là người ta đã nghiên cứu về các chuyển động cơ học tới hai nghìn năm là ít, hay ít ra cũng tới 200 năm nếu như tính từ thời Galilei rồi mới biết tới những khái niệm nguyên tử, phân tử, và rồi việc tìm kiếm các hạt cơ bản còn nhỏ hơn nữa thì đến tận giờ này còn chưa kết thúc. Hay là khi nghiên cứu về các lực, người ta đã tìm ra và đặt tên rất rất nhiều loại lực phụ thuộc vào biểu hiện hoặc môi trường chúng tham gia, mà tới tận thế kỉ 20 mới có thể qui kết rằng thực chất tất cả chúng đều chỉ là những biểu hiện, hay những hệ quả của tất cả có bốn loại lực là hấp dẫn, điện từ, lực hạt nhân mạnh và lực yếu (hay hạt nhân yếu). Điều đó không có gì khó hiểu bởi vì con người chúng ta là quá lớn so với kích thước của các hạt cơ bản, nên để quan sát được chúng thì người ta cần phải có những công nghệ đủ cao, và để có những công nghệ đó, thì người ta lại phải có những nghiên cứu về những thứ vĩ mô trước đó. Tuy vậy có một điểm chung với toán học, đó là dù trình tự nghiên cứu và phát hiện ra sao thì tất cả những qui tắc, những định luật của vật lý vẫn liên quan chặt chẽ với nhau (tất nhiên, là trừ giữa bốn lực cơ bản nêu trên với nhau, mà vấn đề chính là ở lực hấp dẫn mà tới nay người ta chưa tìm được mối liên hệ cụ thể). Và vì thế tôi lại quay lại với vấn đề chính của bài viết này, đó là nếu nắm được những kiến thức cơ bản, thì chẳng khó khăn gì để giải quyết các bài toán mà bạn bắt gặp.

          Chẳng hạn với vấn đề của các lực, hãy dùng một chút tư duy logic, bạn sẽ thấy ngay rằng lực đẩy Archimedes trong chất lỏng chẳng qua là một lực hệ quả của lực hấp dẫn. Tất nhiên ở thời của Archimedes thì người ta chưa biết tới lực hấp dẫn nên ông đã phải tự tìm ra nó bằng một loạt phép thử, còn ngày nay cho dù không được ai chỉ cho và nhà trường không hề nói tới thì với kiến thức về lực hấp dẫn bạn hoàn toàn có thể tự tìm ra nguyên lý này. Hay là lực ma sát, có phần phức tạp hơn đôi chút, nhưng nếu suy nghĩ cẩn thận, bạn sẽ nhận ra ngay nó là một lực điện từ sinh ra do sự cọ sát tiếp động năng cho các electron (điện tử) ở hai bề mặt tiếp xúc khiến cho các bề mặt này tích điện tức thời. Tất nhiên đây là những ví dụ mang tính lý thuyết đẻ chỉ ra rằng bạn có thể dùng một số qui tắc nhất định làm cơ sở để tìm ra những qui tắc khác mà không cần đó phải là những gì mà ai đó đã nói cho bạn. Bên cạnh những ví dụ lý thuyết đó thì rõ ràng một điều là hầu hết các hiện tượng hàng ngày bạn bắt gặp trong thế giới xung quanh đều có thể giải thích được bằng các định luật cơ bản của vật lý và các công thức toán học, chỉ khác nhau ở chỗ bạn cần sử dụng nhiều hay ít qui luật và phải đi qua nhiều hay ít bước lập luận logic mà thôi.



Lực đẩy Archimedes trong chất lỏng chẳng qua là một hệ quả của lực hấp dẫn

          Vậy thì bây giờ sau tất cả những diễn giải và ví dụ trên, chúng ta hãy quay lại với vấn đề của giáo dục. Tôi đang nói về việc tại sao kiến thức và khả năng vận dụng tư duy của người trẻ trong xã hội chúng ta chưa được cao. Có thể thấy khá rõ một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là do sai lầm trong quan điểm giáo dục của một bộ phận không nhỏ các nhà giáo. Nếu giáo dục chỉ là truyền lại thông tin, thì chúng ta không còn cần tới trường học nữa, có chăng chỉ cần dạy trẻ biết đọc, biết viết, vì khi đã biết đọc và biết viết rồi thì người ta sẽ có thể tự tìm kiếm thông tin một cách rất dễ dàng. Có người lại nói rằng trường học để thông tin đến với người học, nhất là các em học sinh còn chưa làm chủ được tư duy của mình, một cách bài bản hơn. Cái đó có gì khó đâu, chỉ cần chấn chỉnh lại việc xuất bản sách, báo, tài liệu và làm chặt hơn những qui định về giới hạn độ tuổi, làm tốt hơn công tác tư vấn, ... là sách hay, sách tốt sẽ đến đúng chỗ ngay. Cái mà sách báo không làm được mà còn cần tới người thầy, cần tới một nền giáo dục tiến bộ, đó là những phương pháp tư duy, những cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Làm sao để người học có thể tự lập một công thức dựa trên những gì đã có sẵn, có thể giải thích một hiện tượng tự nhiên từ những nguyên lý cơ sở: đó chính là dạy cho họ nghĩ như thế nào.

          Để đất nước hùng mạnh, trước hết phải đầu tư vào dân trí. Để dân trí nâng cao, trước hết phải làm khoa học và giáo dục. Để có một nền giáo dục tốt, vấn đề nêu trên cần được nhìn nhận một cách thật nghiêm túc.

          Vài ý kiến chia sẻ cùng các độc giả, nhất là những người yêu giáo dục.

Viết bởi: Đặng Vũ Tuấn Sơn
Admin
TÌM KIẾM


Hỗ trợ trực tuyến
Nguyễn Văn Ngọc
Nguyễn Văn Ngọc
Hiệu trưởng
Hoàng Thái Anh
Hoàng Thái Anh
P.Hiệu trưởng
ĐĂNG NHẬP

Tên đăng nhập
Mật khẩu
HÌNH ẢNH
LIÊN KẾT WEBSITE


TRƯỜNG THCS VĂN THỦY - HUYỆN LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 0232.3964255 - Email: thcs_vanthuy@lethuy.edu.vn
Developed by Phạm Xuân Cường. Tel: 0912.037911 - Mail: cuonggiaoduc@gmail.com